Giáo sư, Bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng có kinh nghiệm hơn 50 năm trong ngành Sản Phụ khoa và là một trong những người đầu tiên triển khai kỹ thuật Hỗ trợ sinh sản tại Việt Nam. Bác sĩ Ngọc Phượng là người khởi xướng chương trình Ươm Mầm Hạnh Phúc – Chương trình hỗ trợ chi phí thụ tinh trong ống nghiệm cho các gia đình có hoàn cảnh khó khăn tại bệnh viện Mỹ Đức.
Bác sĩ Ngọc Phượng hiện là cố vấn chuyên môn cấp cao bệnh viện Mỹ Đức, được biết đến như một cây đại thụ trong lĩnh vực Sản Phụ khoa. Với những ai từng tiếp xúc với Bác sĩ Phượng, chắc hẳn sẽ cảm nhận được tấm lòng bác ái và sự tận tâm mà cô dành cho bệnh nhân của mình. Vẫn luôn như thế, giản dị – ân cần – gần gũi, Bác sĩ Phượng mang đến một cảm giác thân thương cho tất cả các bệnh nhân khi đến khám tại bệnh viện Mỹ Đức.
Năm 2024, Bác sĩ Ngọc Phượng là người Việt đầu tiên được trao giải thưởng “Nobel Châu Á” – THE GLOBAL ANNOUNCEMENT OF THE 2024 RAMON MAGSAYSAY. Giải thưởng Ramon Magsaysay được thành lập vào năm 1957 nhằm tôn vinh những người đã quên mình “cống hiến cho các dân tộc châu Á”. Giải thưởng này được đặt theo tên của Tổng thống Philippines Ramon Magsaysay. Kể từ 66 năm thành lập, quỹ đã trao tặng cho 322 cá nhân và 26 tổ chức. Giải thưởng chỉ có tiêu chí đề cao sự đóng góp của cá nhân cho xã hội và được công nhận bởi cộng đồng.
BS. Ngọc Phượng là Giáo sư Sản Phụ khoa Đại học Y khoa Nice Sophia Antipolis (Pháp), nguyên Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ TPHCM, nguyên Trưởng bộ môn Phụ sản Đại học Y Dược TPHCM, nguyên Trưởng Bộ môn Phụ Sản Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch.
GS. BS. Nguyễn Thị Ngọc Phượng (hay được các thế hệ y bác sĩ trẻ gọi thân thương là cô Phượng) trước những lựa chọn, cô đã ở lại đất nước bằng tất cả trái tim, trí tuệ và sự kiên cường của một người phụ nữ Việt Nam. Hiện 82 tuổi, nhưng GS. BS. Nguyễn Thị Ngọc Phượng – vẫn khoác áo blouse trắng làm việc đến 9 giờ tối mỗi ngày. Với cô Phượng, được cống hiến là được sống.
Suốt hành trình làm nghề, cô không chỉ là người tiên phong đưa kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) về Việt Nam, mà còn dành gần 40 năm đấu tranh cho công lý của nạn nhân chất độc da cam – một hành trình bền bỉ, lặng lẽ nhưng đầy ý nghĩa.
Ngày đất nước thống nhất, cô mang theo ba con nhỏ – đứa lớn nhất mới 5 tuổi, đứa út mới hơn hai tháng tuổi – vào trực tại bệnh viện Từ Dũ 24/24, không về nhà suốt hơn một tháng. Vì Cô tin: “bệnh nhân chuyển dạ vẫn cần người sinh con.”
Chồng cô từng bảo lãnh cả gia đình sang Pháp, nhưng cô hai lần từ chối. Lần đầu, cô vừa giảng bài vừa nhìn ánh mắt trong veo của sinh viên và tự hỏi: “mình đi rồi, ai dạy các em?”. Lần sau, cô vẫn nhất quyết ở lại quê hương và nộp đơn ly hôn cùng chồng vì không muốn ông phải sống cô đơn. Cô chia sẻ nỗi niềm: “Pháp, Mỹ không thiếu bác sĩ. Nhưng những người bệnh nơi đây – những người tôi mang ơn – họ cần tôi.”
Sau ly hôn, cô một mình nuôi ba con nhỏ trong căn nhà tạm bợ, nhiều hôm phải chia nhau phần cơm trưa của bệnh viện. Nhưng điều cô lo nhất không phải cơm áo, mà là việc học hành của con. Bằng ý chí và sự giúp đỡ từ cộng đồng, ba người con của cô đều trưởng thành, tử tế.
Năm 1995, sau thời gian giảng dạy tại Pháp, cô tiết kiệm từng đồng tiền lương giáo sư để mua thiết bị, mang IVF về Việt Nam. Đến 1997, Việt Nam chính thức có những ca thụ tinh ống nghiệm đầu tiên thành công – ba đứa trẻ chào đời đúng ngày 30/4, tròn 22 năm sau ngày thống nhất.
Ngay từ những năm 1980, cô nhận ra số trẻ dị tật tăng bất thường và bắt đầu nghiên cứu về chất độc da cam. Dù gặp không ít phản đối và cô lập, cô vẫn bền bỉ đi điều tra, trình bày quốc tế, thậm chí một mình đối diện trước hàng loạt luật sư Mỹ để đòi công lý cho Việt Nam.
Đến nay, dù Mỹ vẫn chưa chính thức thừa nhận, nhưng nhờ sự nỗ lực của cô và các cộng sự, nhiều sân bay đã được tẩy độc, và hàng nghìn người đã được hỗ trợ y tế.
Nguồn Bệnh viện Mỹ Đức

